Những tình bạn “bromance” vĩ đại nhất trong lịch sử nghệ thuật

Mặc dù khái niệm “bromance”, ghép từ hai từ tiếng Anh “brother” (anh em trai) và “romance” (lãng mạn), chỉ một tình bạn giữa hai người đàn ông trên mức bạn bè và dưới mức tình yêu, chỉ mới được đưa gần đây vào văn nói hiện đại tương đối nhưng tình cảm bạn bè đặc biệt này hoàn toàn không mới.

Giữa các nghệ sĩ – có lẽ cũng như với những người đàn ông của mọi ngành nghề – những tình bạn này đôi khi đi kèm với những mối cộng tác hoặc một tình cảm cộng tác mang tính thầy trò, trong khi sự ngưỡng mộ và sự ganh đua nằm song song trên một ranh giới thật mong manh.

Hãy cùng Style theo bước chân tình bạn độc đáo của những cặp nghệ sĩ trong bài viết, trải qua ba thế kỷ, cho chúng ta thấy tình yêu thực sự như một mối tri kỷ là thế nào, cùng phấn đấu và hỗ trợ nhau một cách chuyên nghiệp. Những tình bạn này còn chứng minh rằng con đường nghệ thuật không nhất thiết là con đường đơn độc.

Andy Warhol và Jean-Michel Basquiat

Basquiat lớn lên trong tuổi trẻ hằng thần tượng Warhol, người hơn anh 30 tuổi. Được giới thiệu bởi nhà sưu tầm nghệ thuật Bruno Bischofberger, hai nghệ sỹ nổi tiếng này đã trở thành bạn bè. Trong những năm của thập kỷ 80’, họ hợp tác với nhau trong các bức tranh như Untitled (1984–85).

Nhiếp ảnh gia Tseng Kwwong Chi chụp Warhol và Basquiat vào năm 1987 tại Eric Firestone Gallery

Tác phẩm của Basquiat vẽ hình bụng người có màu đỏ rực rỡ bên cạnh đầu lâu và xương chéo của Warhol, gợi lại loạt tác phẩm “Skulls” (Đầu lâu) in lụa và vẽ của Warhol vào năm 1976.

Bức tranh Untitle của Basquiat kết hợp với Andy Warhol

Mối quan hệ của Warhol và Basquiat đã được mô tả như một mối quan hệ cộng sinh: Basquiat dựa vào Warhol để củng cố tên tuổi của mình và giúp anh định hướng cho sự nổi tiếng trong giới nghệ thuật đến quá nhanh của chính mình. Còn đối với Warhol, tận dụng năng lượng trẻ của Basquiat để làm sống lại hình ảnh của chính mình như một kẻ nổi loạn trong thế giới nghệ thuật.

Salvador Dalí và Man Ray

Trong một bức ảnh năm 1934 của nhiếp ảnh gia Carl Van Vechten, Dalí và Ray nhìn chằm chằm vào người xem với đôi mắt mở to. Tấm hình thật độc đáo nhưng lại pha chút khác lạ mà hai nghệ sĩ đã luôn tìm cách ghi lại trở thành dấu ấn quen thuộc vào các tác phẩm của mình. Ray, một người Mỹ, di cư từ New York đến Paris vào năm 1921 và trở thành một phần của phong trào nghệ thuật Dada và Chủ nghĩa siêu thực đầy sôi động của Kinh đô Ánh sáng. Năm năm sau, Dalí đến thăm thủ đô của Pháp lần đầu tiên. Ông chính thức gia nhập phái Siêu thực vào năm 1929.

Chân dung của Salvador Dali và Man Ray chụp bởi Carl Van Vechten

Cặp đôi đã hợp tác trong một số tác phẩm nghệ thuật, chẳng hạn như tác phẩm điêu khắc Chân dung Joella (1933–34). Ray cũng chụp ảnh Dalí và tác phẩm của ông. Ví dụ như tác phẩm Mannequin (1938) của  Salvador Dalí, mô tả một hình nộm mà Dalí đã tạo ra, làm cho tác phẩm vốn kỳ quặc của Dalí thậm chí còn quái lạ hơn thông qua cách tạo khung hình và nghệ thuât chơi ánh sáng kỳ quái của Ray.

Lucian Freud và Francis Bacon

Năm 2013, bức chân dung gồm ba phần có tiêu đề “Three Studies of Lucian Freud” (1969) của Bacon được bán tại Christie’s với giá 142,4 triệu đô la, mức giá cao nhất từ ​​trước đến nay cho một tác phẩm được bán đấu giá vào thời điểm đó – và nhấn mạnh mối quan hệ thân thiết giữa hai nghệ sĩ.

Phần 2 trong bộ ba tranh vẽ Lucian Freud của Francis Bacon vẽ năm 1969

Là các nghệ sỹ có cạnh tranh trong môi trường nghệ thuật cũng như bạn bè, Bacon và Freud đã tạo nên tên tuổi của họ bằng cách nhấn mạnh vào hội họa đại diện khi sự trừu tượng thống trị thế giới nghệ thuật, với những hình vẽ méo mó, đầy da thịt của Bacon là một đối lập với những bức chân dung chi tiết, gần gũi của Freud (một vài trong số đó miêu tả Bacon). Bất chấp khoảng cách hơn nhau 13 năm tuổi, hai người bạn vẫn gặp nhau gần như mỗi ngày trong suốt 25 năm. Đáng buồn thay, tình bạn của họ đã dần úa tàn khi họ bất đồng quan điểm do phê phán các tác phẩm sau này của cả hai bên.

Chris Ofili và Peter Doig

Hai họa sĩ người Anh Ofili và Doig gặp nhau trong trường nghệ thuật và nhanh chóng trở thành bạn thân. Năm 2000, Ofili đến đảo Trinidad gần Nam Mỹ để tham gia một hội thảo vẽ tranh; anh ấy cũng thuyết phục chương trình này mời Doig làm diễn giả chính. Trong nhiều năm sau đó, cả hai nghệ sĩ đã trở lại hòn đảo này nhiều lần và cuối cùng đã chuyển hẳn đến đây. Ofili và Doig đều trải qua sự trẻ hóa nghệ thuật của mình đến từ sự thay đổi khung cảnh sáng tạo một cách hoàn toàn – cũng như nhận thức sâu sắc về vai trò là người ngoài cuộc của họ trên hòn đảo Caribe này.

Tác phẩm Vô đề của Chris Ofili

Duy trì tình bạn thân thiết của họ trong những năm qua, Doig đã phải vật lộn với việc làm thế nào để tránh sáng tạo vào lối mòn thi vị hoá về người bản địa trên đảo, trong khi Ofili phải điều hướng việc tiếp nhận các tác phẩm của mình trong một nền văn hóa luôn gắn mác những ý nghĩa sâu sắc vào hình ảnh của địa phương và nước ngoài.

Bức tranh Fisherman của Peter Doig vẽ năm 2014

Trong khi các nghệ sĩ chia sẻ mối quan tâm về nghệ thuật, họ khẳng định rằng phong cách sáng tạo của họ không hề bị ảnh hưởng bởi nhau.

Marcel Duchamp và Francis Picabia

Năm 1911, một Duchamp khi mới 25 tuổi gặp Picabia ở Paris. Họ nhanh chóng trở nên thân thiết, cũng như với nhà thơ và nhà phê bình nghệ thuật Guillaume Apollinaire. Ba người đã chia sẻ kinh nghiệm từ một đêm đi xem hát có ảnh hưởng đến việc sáng tạo nghệ thuật của Duchamp, đến chuyến đi xe dài ngày để tìm vợ của Picabia từ phía đông dãy núi Jura.

Marcel Duchamp cùng Francis Picabia và Betrice Wood chụp vào năm 1917

Họ cũng trao đổi những ý tưởng nghệ thuật, thông qua những lời chế giễu đầy dí dỏm lẫn nhau mà đoán trước được cách chơi chữ thông minh của phong trào nghệ thuật Dada. Khi Duchamp và Picabia chuyển đến New York vào cuối thập kỷ đó, họ trở thành những người tiên phong đậm chất vant-garde (và là bạn của nhiếp ảnh gia Man Ray), thúc đẩy mục tiêu phản nghệ thuật của phong trào nghệ thuật Dada.

Isamu Noguchi và R. Buckminster Fuller

Noguchi và Fuller gặp nhau tại Làng Greenwich ở New York vào năm 1929, và duy trì một tình bạn thân thiết kéo dài hơn nửa thế kỷ. Noguchi ngưỡng mộ Fuller đến nỗi anh đã sửa sang lại studio của riêng mình để phản ánh thiết kế quán rượu nổi tiếng của Fuller, và thậm chí còn làm một bức tượng bán thân chân dung của anh, được tạo ra trong suốt bảy lần ngồi với vị kiến ​​trúc sư.

Isamu Noguchi và Buckminster Fuller tại khu vườn điêu khắc mang tên Californica Scenario của Noguchi chụp tại Mỹ vào năm 1982

Trong khi Noguchi áp dụng các nguyên tắc kiến ​​trúc của Fuller để sử dụng trong tác phẩm điêu khắc của riêng mình, cả hai cũng hợp tác trong các dự án bao gồm Xe Dymaxion (1932), xuất phát từ mong muốn tạo ra một chiếc ô tô bay và một nhà hát chưa bao giờ thành hiện thực cho biên đạo múa Martha Graham.

Vincent van Gogh và Émile Bernard

Mặc dù van Gogh và Bernard chênh nhau 15 tuổi nhưng họ đã trở thành bạn của nhau sau khi gặp nhau trong một lớp học nghệ thuật ở Paris. Hoạ sỹ người Hà Lan này đã là người cố vấn cho nữ nghệ sĩ và nhà văn trẻ người Pháp.

Ảnh chụp Emile Bernard và Vicnent van Gogh tại bờ sông Seine tại Asnieres ngoại ô Paris năm 1886.

Vào cuối những năm 1880, khi van Gogh chuyển đến vùng nông thôn phía Nam để thoát khỏi thế giới nghệ thuật cạnh tranh của Paris, hai người đã trao đổi rất nhiều thư từ. Trong những bức thư này, van Gogh phê bình hội họa và thơ của Bernard, đồng thời tiết lộ kế hoạch cho các tác phẩm tương lai của chính ông. Bất chấp những bất đồng về nghệ thuật đã chấm dứt việc trao đổi thư từ của họ, Bernard đã trở thành người bênh vực quyết liệt cho van Gogh sau khi ông qua đời, dẫn đến việc xuất bản những bức thư của van Gogh.

Robert Rauschenberg và Jean Tinguely

Một tác phẩm nghệ thuật khổng lồ, tự hủy mang tên Homage to New York (1960) là chất xúc tác cho tình bạn của Rauschenberg và Tinguely. Đó là khi nghệ sĩ Thụy Sĩ Tinguely đến New York vào năm 1960 để xây dựng tác phẩm điêu khắc động học cho bảo tàng MoMA, ông và Rauschenberg – người đã tạo ra một chiếc máy nướng bánh mì đẩy tiền ra như một phần của tác phẩm – đã gặp nhau lần đầu tiên.

Tác phẩm Estate của Robert Rauschenberg vẽ năm 1963

Rauschenberg, người đã bắt đầu chế tạo các tổ hợp hoặc “kết hợp” bằng sơn của mình vào giữa những năm 1950, say mê với việc sử dụng công nghệ của Tinguely để tạo ra các tác phẩm nghệ thuật chuyển động liên hoàn và sớm đưa các yếu tố như đèn kích hoạt bằng âm thanh vào tác phẩm của mình.

Tác phẩm Homage to New York tạm dịch Tôn kính với New York của Jean Tinguely năm 1960

Vào đầu những năm 1960, hai nghệ sĩ đã hợp tác biểu diễn đa phương tiện tại các thành phố từ Los Angeles đến Stockholm.



Nguồn bài viết

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây